Saturday, 22/09/2018

Thực trạng quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực đất đai ở Việt Nam hiện nay

08:34 09/02/2017

Tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự - chính trị, được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948. Ở Việt Nam, quyền tiếp cận thông tin được thể hiện tại Điều 25 Chương II Hiến pháp Việt Nam năm 2013. Theo đó, “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Với cơ sở pháp lý quan trọng này đã khẳng định, người dân có quyền được tiếp cận thông tin trong tất cả các lĩnh vực (trừ thông tin liên quan đến an ninh quốc gia, bí mật cá nhân...).

Trong lĩnh vực đất đai, Điều 28 Luật đất đai năm 2013 quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp thông tin về đất đai như sau:

“1. Xây dựng, quản lý hệ thống thông tin đất đai và bảo đảm quyền tiếp cận của tổ chức, cá nhân đối với hệ thống thông tin đất đai.

2. Công bố kịp thời, công khai thông tin thuộc hệ thống thông tin đất đai cho tổ chức, cá nhân, trừ những thông tin thuộc bí mật theo quy định của pháp luật.

3. Thông báo quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai cho tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp.

4. Cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong quản lý, sử dụng đất đai có trách nhiệm tạo điều kiện, cung cấp thông tin về đất đai cho tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.”

Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tại Mục a Khoản 2 Điều 43 Luật đất đai năm 2013 cũng quy định:

“Việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh được thực hiện thông qua hình thức công khai thông tin về nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được thực hiện thông qua hình thức tổ chức hội nghị, lấy ý kiến trực tiếp và công khai thông tin về nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện”.

Điều 48 của Luật này cũng chỉ rõ các cơ quan liên quan phải có trách nhiệm công bố công khai các thông tin liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:

“Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt phải được công bố công khai.

Trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định như sau:

- Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia tại trụ sở cơ quan và trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường;

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh tại trụ sở cơ quan và trên cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

- Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện tại trụ sở cơ quan, trên cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp huyện và công bố công khai nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện có liên quan đến xã, phường, thị trấn tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã.

Thời điểm, thời hạn công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định sau đây:

- Việc công bố công khai được thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt;

- Việc công khai được thực hiện trong suốt kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất”.

Để triển khai thực hiện Luật đất đai năm 2013, ngày 30/6/2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 1288/QĐ-BTNMT về Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, trong đó, Điều 3 quy định:

“Người phát ngôn thường xuyên thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí về các nội dung sau:

- Các cơ chế, chính sách, chương trình, quy hoạch, kế hoạch, chiến lược, nhiệm vụ công tác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường;

- Kết quả công tác và sự chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Bộ; các sự kiện, hoạt động nổi bật của Bộ Tài nguyên và Môi trường;

- Những vấn đề liên quan khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng trong quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường”.

Tại Điều 199 Luật đất đai hiện hành quy định về quyền giám sát của công dân đối với việc quản lý, sử dụng đất đai. Theo đó:

“1. Công dân có quyền tự mình hoặc thông qua các tổ chức đại diện thực hiện quyền giám sát và phản ánh các sai phạm trong quản lý và sử dụng đất đai;

2. Việc giám sát và phản ánh phải bảo đảm khách quan, trung thực, đúng pháp luật; không được lợi dụng quyền giám sát để khiếu nại, tố cáo không đúng quy định của pháp luật, làm mất trật tự xã hội; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác các thông tin do mình phản ánh;

3. Nội dung giám sát của công dân trong quản lý và sử dụng đất đai:Việc lập, điều chỉnh, công bố, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;Việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;Việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;Việc thu, miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế liên quan đến đất đai; định giá đất;Việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;

4. Hình thức giám sát của công dân trong quản lý và sử dụng đất đai:Trực tiếp thực hiện quyền giám sát thông qua việc phản ánh, gửi đơn kiến nghị đến các cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết;Gửi đơn kiến nghị đến các tổ chức đại diện được pháp luật công nhận để các tổ chức này thực hiện việc giám sát;

5. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận được ý kiến của công dân và tổ chức đại diện cho người dân:Kiểm tra, xử lý, trả lời bằng văn bản theo thẩm quyền;Chuyển đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết trong trường hợp không thuộc thẩm quyền;Thông báo kết quả cho tổ chức, cá nhân đã phản ánh”.

Điều 204 của Luật đất đai năm 2013 đã quy định việc giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai như sau: “Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính”.

Trong quá trình giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, công dân phát hiện các sai sót có thể gửi đơn lên các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết. Điều 209 của Luật đất đai năm 2013 đã quy định rõ về việc tiếp nhận và xử lý trách nhiệm của thủ trưởng, công chức, viên chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp và công chức địa chính cấp xã trong việc vi phạm trình tự thực hiện các thủ tục hành chính. Cụ thể:

“1. Tổ chức, cá nhân khi phát hiện công chức, viên chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp, công chức địa chính xã, phường, thị trấn vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn đối với việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, làm thủ tục thực hiện quyền của người sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận thì có quyền gửi đơn kiến nghị đến người có thẩm quyền theo quy định sau đây:

- Đối với vi phạm của công chức địa chính xã, phường, thị trấn thì gửi kiến nghị đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;

- Đối với những vi phạm của công chức, viên chức thuộc cơ quan quản lý đất đai cấp nào thì gửi kiến nghị đến thủ trưởng cơ quan quản lý đất đai cấp đó;

- Đối với vi phạm của thủ trưởng cơ quan quản lý đất đai thì gửi kiến nghị đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp.

2. Trong thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiến nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân hoặc thủ trưởng cơ quan quản lý đất đai quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm xem xét, giải quyết và thông báo cho người có kiến nghị biết”.

Như vậy, cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực đất đại đã được quy định trong các văn bản của Nhà nước khá cụ thể. Theo đó, các cơ quan (cụ thể là Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường...) có trách nhiệm cung cấp, công bố rộng rãi các văn bản liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quyền sử dụng đất...

Thực tế cho thấy, thông tin về đất đai mà công dân, tổ chức muốn tìm hiểu, tiếp cận là: Đất nằm trong khu quy hoạch nào, vị trí, ranh giới; diện tích; ai là người có quyền sử dụng đất; quyền sử dụng đất có liên quan tới quan hệ thừa kế, có phải là tài sản bảo đảm cho việc thực hiện một nghĩa vụ nào đó hay không...?. Tuy vậy, quyền được tìm kiếm, cung cấp thông tin của công dân trong lĩnh vực đất đai đã và đang gặp nhiều khó khăn. Khó khăn này đến cả từ phái người đang sử dụng đất và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Theo quy định: Cơ quan nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn, tạo điều kiện cho cá nhân, tổ chức trong việc tìm hiểu thông tin về đất đai. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, việc khai thác, sử dụng các thông tin liên quan đến lĩnh ực đất đai (do Nhà nước quản lý) còn hết sức khó khăn. Thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất liên quan đến các chương trình, dự án không phải bao giờ cũng được công bố công khai, kịp thời, đúng pháp luật, bởi sự độc quyền bí mật thông tin sẽ tạo ra lợi nhuận đáng kể cho người sở hữu thông tin. Với cơ chế hành chính như hiện nay, việc thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin hay tìm kiếm thông tin về đất đai để giao dịch (mua, bán), hoặc các thông tin đất đai do Nhà nước quản lý không hề đơn giản. Có địa phương, cơ quan nhà nước không quy định việc cung cấp các thông tin tài liệu đất đai ở địa phương mình quản lý. Ngược lại, người dân cũng không biết mình có quyền gì để tiếp cận, tìm kiếm thông tin về đất đai (nếu họ cần). Thông thường, nếu họ muốn tìm hiểu thông tin về đất đai, họ phải “xin” hoặc “nhờ” cán bộ, công chức quản lý đất đai; đi lại rất nhiều lần mới tìm được những thông tin mình cần.

Luật đất đai năm 2013 đã ban hành và có hiệu lực từ ngày 1/7/2014, gồm 212 điều, nhưng không có một điều khoản nào quy định cụ thể về quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của cộng đồng dân cư trong việc tìm kiếm. Ngoài ra, Luật cũng chưa cụ thể hóa trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ cung cấp thông tin về đất đai. Nếu cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân (trong thực thi công vụ) không cung cấp thông tin hoặc có cung cấp thông tin, nhưng chưa kịp thời, không đúng nội dung và đối tượng... thì phải chịu trách nhiệm gì, xử đến đâu, bồi thường như thế nào? Trong trường hợp cần thiết phải khởi kiện ra tòa thì thủ tục ra sao? Tòa án nào giải quyết?...

Hiện nay, tranh chấp, khiếu kiện về đất đai đang là một thách thức đốiv ới các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc giải quyết dứt điểm, có hiệu quả vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc duy trì sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong cả nước và ở từng địa phương. Muốn vậy, cần tìm hiểu, nhận dạng các nguyên nhân phát sinh (trong đó có những nguyên nhân có tính lịch sử) tranh chấp, khiếu kiện và xác lập cơ chế thích hợp nhằm giải quyết dứt điểm, triệt để loại tranh chấp này. Tuy nhiên, hiện nay công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai còn nhiều vướng mắc, như: Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai; việc thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng...

Từ thực trạng trên, thiết nghĩ, cần sớm ban hành quy định cụ thể về quyền tiếp cận thông tin, tìm kiếm thông tin và giải quyết khiếu nại tố cáo để tránh những tranh chấp xảy ra trong lĩnh vực nhạy cảm như đất đai. Cơ chế này sẽ bảo đảm giải quyết khách quan, tránh tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trước pháp luật. Đồng thời, buộc các cơ quan hành chính và công dân có thẩm quyền, nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vê quyết định của chính mình khi đã được cung cấp, tìm kiếm đầy đủ thông tin.

Nguyễn Trung Thành

Tạp chí Nội chính, Số 29 (12-2015), trang 46-49

Thong ke