Wednesday, 24/04/2019

NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VÀ VAI TRÒ THAM MƯU VỀ LUẬT TRONG QUẢN LÝ

13:01 23/01/2019

Đó là những nội dung chính trong buổi phỏng vấn Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Chủ tịch Hội Trọng tài Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh – HCCAA, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài thương mại Luật gia Việt Nam – VLCAC, nhân số báo đặc biệt chào mừng xuân 2019.

PV: Thưa Luật sư, xin ông cho biết những điểm mới về chính sách pháp luật đáng chú ý khi bước vào năm 2019.

Luật sư Nguyễn Văn Hậu (NVH): Ngày 12/11/2018, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cùng các văn kiện liên quan. Theo đó, Việt Nam là quốc gia thứ 7 thông qua Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), sau New Zealand, Canada, Australia, Nhật Bản, Mexico và Singapore.  Việc tham gia Hiệp định đem lại nhiều thời cơ nhưng cũng mang đến cho Việt Nam những thách thức, trong đó thách thức về hoàn thiện khung khổ pháp luật, thể chế cũng được xem là một trong những thách thức lớn của Việt Nam. Pháp luật Việt Nam sẽ phải được điều chỉnh để tuân thủ các chuẩn mực mới của Hiệp định, đặc biệt là các quy định liên quan tới Thương mai, hải quan, sở hữu trí tuệ, lao động,…

Gia nhập công ước CPTPP cũng như tình hình thực tế kinh tế xã hội của Việt Nam, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 57/2018/QH14 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019, điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018, như Luật hành chính công; Luật kiến trúc; Luật phòng chống tác hại của rượu bia; Luật quản lý thuế (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án Hình sự; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư công; Luật lao động (sửa đổi); Luật khám chữa bệnh (sửa đổi); Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán; Luật dự bị động viên; Luật thư viện (bị lặp); Luật dân quân tự vệ (sửa đổi); Luật xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam.

Yêu cầu đặt ra cho việc xây dựng và sửa đổi luật của Việt Nam là các quy định của pháp luật sẽ phải ngày càng tiến bộ, dân chủ, đảm bảo được sự công khai và minh bạch, phù hợp với các tiêu chí chuẩn mực chung của thế giới nói chung, của các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã và đang là tham gia.

Tuy nhiên, trong quá trình đàm phán, tham gia ký kết các điều ước quốc tế, có những quy định Việt Nam sẽ phải nội luật hóa trước khi tham gia ký kết, có những quy định Việt Nam sẽ có một khoảng thời gian để nội luật hóa, ví dụ như các quy định về bảo hộ sở hữu trí tuệ, về giải quyết tranh chấp đầu tư,…

Như vậy, có thể nói việc tham gia vào các điều ước quốc tế, đặc biệt là các điều ước quốc tế đa phương có quy mô lớn như CPTPP thì pháp luật của Việt Nam sẽ có nhiều thay đổi để phù hợp với quy định chung của Điều ước.

PV: Sự ra đời Trung tâm trọng tài thương mại Luật gia Việt Nam có đáp ứng nhu cầu giải quyết tranh chấp cho Doanh nghiệp. Và so với Tòa án thì có(dính chữ) gì khác biệt?

LS NVH: Trung tâm trọng tài Thương mại Luật gia Việt Nam (VLCAC) được thành lập theo Giấy phép số 12/BTP/GP ngày 14 tháng 3 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Với số lượng 86 Trọng tài viên là các luật gia, luật sư, các chuyên gia kinh tế, tài chính, thương mại, đầu tư có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm và uy tín cao trong lĩnh vực giải quyết các tranh chấp. Có thể khẳng định VLCAC hoàn toàn đáp ứng được tất cả các nhu cầu giải quyết tranh chấp thương mại của Doanh nghiệp.

So với hình thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án, giải quyết tranh chấp thương mại theo phương thức tố tụng trọng tài có một số ưu điểm vượt trội như sau:

Thứ nhất, quyết định của trọng tài là chung thẩm và vì vậy nó có giá trị bắt buộc đối với các bên không thể chống án hay kháng cáo. Vấn đề này được quy định cụ thể tại khoản 5 Điều 61 Luật trọng tài thương mại năm 2010. Việc xét xử tại trọng tài chỉ diễn ra ở một cấp xét xử, đó cũng chính là điều khác biệt cơ bản so với việc xét xử tại Tòa án bởi thông thường xét xử tại Tòa án diễn ra ở hai cấp.

Thứ hai, hoạt động của trọng tài diễn ra liên tục vì hội đồng trọng tài xét xử vụ kiện là do các bên thỏa thuận lựa chọn, hoặc được chỉ định để giải quyết vụ kiện, do đó các trọng tài viên là người theo vụ kiện từ đầu đến cuối, vì vậy họ có điều kiện để nắm bắt và tìm hiểu thấu đáo các tình tiết của vụ việc. Tùy thuộc vào lựa chọn của các bên có thể lựa chọn hình thức trọng tài vụ việc hay là giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài. Chính điều này có lợi ngay cả khi các bên muốn hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán, trọng tài có thể hỗ trợ các bên đạt tới một thỏa thuận, điều mà ít khi xảy ra ở Tòa án.

Thứ ba, nội dung tranh chấp được giữ bí mật, phán quyết của trọng tài không được công bố rộng rãi. Hầu hết các quy định pháp luật về trọng tài của các quốc gia đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài xử kín nếu các bên không có thỏa thuận khác. Đây là một ưu điểm quan trọng bởi các doanh nghiệp không muốn các bí quyết kinh doanh (nhất là trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, công nghệ cao) của vụ tranh chấp thương mại bị đem ra công khai trước tòa án, điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động kinh doanh của mình. Vì vậy, nếu giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại thì nội dung tranh chấp sẽ được giữ kín.Trong Luật trọng tài thương mại năm 2010 cũng có quy định về vấn đề này. Cụ thể, một trong những nghĩa vụ của trọng tài viên tại khoản 5 Điều 21 là: “Giữ bí mật nội dung vụ tranh chấp mà mình giải quyết, trừ trường hợp phải cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”.

Thứ tư, khi giải quyết tranh chấp, trọng tài cho phép các bên được sử dụng kinh nghiệm của các chuyên gia và điều này được thể hiện ở quyền lựa chọn trọng tài viên của các bên.Việc lựa chọn trọng tài viên được quy định tại các Điều 39, Điều 40, Điều 41, Điều 42 Luật trọng tài thương mại năm 2010. Các bên có thể lựa chọn một Hội đồng Trọng tài dựa trên trình độ, năng lực, sự hiểu biết vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyên biệt như xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, sở hữu trí tuệ, chứng khoán,…

Thứ năm, hoạt động xét xử của trọng tài liên tục do đó tiết kiệm thời gian, chi phí và tiền bạc cho doanh nghiệp. Trong khi đó giải quyết tranh chấp bằng Tòa án thường rất khó đạt được điều này bởi tòa án phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, do đó tình trạng án tồn đọng là điều không thể tránh khỏi. Thực tiễn cho thấy giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thường kéo dài tối đa là 6 tháng, trong khi đó giải quyết tranh chấp tại Tòa án có trường hợp kéo dài mấy năm.

Thứ sáu, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thể hiện tính năng động, linh hoạt và mềm dẻo, do đó dễ thích ứng hơn so với giải quyết tranh chấp bằng Tòa án. Đây là một trong những tiêu chí mà các doanh nghiệp thường quan tâm khi lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp. Luật trọng tài các nước quy định thủ tục tố tụng trọng tài rất đơn giản, chủ yếu dựa trên thỏa thuận của các bên. Các bên được tự do thỏa thuận về toàn bộ quá trình tố tụng và các hội đồng trọng tài có nghĩa vụ phải thực hiện theo đúng thỏa thuận của của các bên. Ví dụ các bên có thể quyết định số lượng trọng tài viên của hội đồng trọng tài, cách thức chỉ định trọng tài viên, tiêu chuẩn trọng tài viên, thời gian giải quyết vụ tranh chấp, luật áp dụng, ngôn ngữ, địa điểm giải quyết vụ tranh chấp,… Trong khi đó Tòa án khi xét xử phải tuân thủ một cách đầy đủ và nghiêm ngặt các quy định có tính chất quy trình, thủ tục, trình tự được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn liên quan.

Thứ bảy, việc xét xử tranh chấp bằng Trọng tài đảm bảo tính bí mật cao và vì vậy sẽ tránh cho các bên nguy cơ làm tổn thương đến mối quan hệ hợp tác làm ăn vốn có, trong khi việc xét xử công khai tại Tòa án thường dễ làm cho các bên rơi  vào thế đối đầu nhau với kết cục là một bên được thừa nhận như một người chiến thắng, còn bên kia thấy mình là kẻ thua cuộc.

Việc xét xử tranh chấp bằng trọng tài trên thực tế đã làm giảm đáng kể mức độ xung đột, căng thẳng của những bất đồng bởi nó diễn ra trong một không gian kín, nhẹ nhàng, mang nặng tính trao đổi để tìm ra sự thật khách quan của vụ việc. Đó chính là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau. Hơn nữa, sự tự nguyện thi hành quyết định của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốt hơn trong quan hệ làm ăn có thể diễn ra trong tương lai.

Thứ tám, sự công nhận quốc tế: Đây là một ưu thế quan trọng đối với các quyết định trọng tài có yếu tố nước ngoài. Thông qua một loạt các công ước quốc tế và đặc biệt Công ước Niu-oóc năm 1958 về Công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài, các quyết định trọng tài sẽ được công nhận và thi hành tại 142 quốc gia, lãnh thổ trên thế giới.

Thứ chín, tính trung lập, vô tư khách quan và tính chuyên nghiệp của trọng tài viên. Với đặc thù là cơ chế giải quyết tranh chấp tư, thẩm quyền được hình thành dựa trên sự thoả thuận của các bên, trọng tài luôn nhấn mạnh các tiêu chí vô tư, khách quan và trình độ của các trọng tài viên. Theo Điều 21 Luật Trọng tài Thương mại, các trọng tài viên có nghĩa vụ “Bảo đảm giải quyết tranh chấp vô tư, nhanh chóng, kịp thời”.

Quan trọng hơn là phạm vi phán quyết của trọng tài rộng hơn rất nhiều so với quyết định của tòa án. Hiện chưa có công ước đa quốc gia về công nhận quyết định phán quyết của tòa án, nhưng trọng tài đã có công ước New York năm 1958, đến nay có 149 quốc gia và vùng lãnh thổ là thành viên. “Nên một khi tham gia vào công ước này, phán quyết của trọng tài các nước thành viên có thể được công nhận tại nước khác. Và Việt Nam đã trở thành thành viên của công ước này”.

Trọng tài thương mại được dự báo sẽ là phương thức giải quyết tranh chấp được các tổ chức, doanh nghiệp ưu tiên lựa chon trong thời gian tới. Nắm bắt được xu thế trên, Đảng và Nhà nước đã đưa chế định trọng tài và phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vào các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đây cũng được xem là một nội dung trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020 và trong chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

PV: Là Luật sư thường được giới truyền thông săn tìm “đặt hàng” trước những vấn đề pháp lý nóng hổi, ông suy nghĩ gì về sự phản biện đóng góp với cơ quan soạn thảo ban hành chính sách và việc tiếp thu được thực hiện như thế nào?

LS NVH: Trong thời buổi công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng như hiện nay, truyền thông có vai trò rất to lớn đối với quá trình phổ biến, tuyên truyền pháp luật cũng như quá trình xây dựng pháp luật thông qua các hoạt động góp ý, phản biện xã hội.

Hằng ngày nhiều cơ quan truyền thông, báo chí nhờ đến Tôi tư vấn hoặc phản biện một góc cạnh pháp lý nào đó mà có sự quan tâm của đông đảo người dân và dư luận xã hội . Tôi nhận thấy, vai trò của phản biện xã hội là rất lớn, đặc biệt là đối với công tác xây dựng pháp luật. Thông qua hoạt động phản biện, nhiều góc nhìn của vấn đề được soi rọi, đối chiếu với thực tiễn.

Mặt khác, trong xã hội có giai cấp, có sự xuất hiện của nhà nước, bao giờ cũng tồn tại nhiều nhóm lợi ích khác nhau. Chính sách của nhà cầm quyền đưa ra có thể đem lại lợi ích cho các nhóm xã hội cũng khác nhau. Vì vậy cần phải có sự bàn luận, phân tích đánh giá của các lực lượng khác nhau trong xã hội về chủ trương, chính sách đó của cơ quan quản lý nhà nước, nhằm tiếp cận chân lý. Trong cuộc sống, phản biện xã hội được hiểu là đưa ra các lập luận, chứng cứ, đánh giá chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, hay một đề án liên quan đến đời sống dân sinh, hoặc một quyết sách lớn của Quốc gia,… qua đó nhằm chỉ ra cái hợp lý, cái bất hợp lý; đưa ra kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh một chính sách, chủ trương nào đó theo hướng “phù hợp với nguyện vọng chính đáng của đại đa số nhân dân”, tránh được các quy định mang tính “lợi ích nhóm”.

Thực tiễn, trong quá trình phản biện, đã có nhiều lần cơ quan soạn thảo đã lắng nghe và tiếp thu ý kiến phản biện. Trong đó, có thể kể tới: chính sách về thu hút đào tạo nhân tài của Thành phố Hồ Chí Minh, về quy định đấu giá quyền sử dụng đất, một số những bất cập về chính sách dân sinh,…Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng không tránh khỏi một số lần các ý kiến phản biện chưa được xem xét ghi nhận một cách đầy đủ mà một trong những nguyên nhân là do có vấn đề “lợi ích nhóm”,…

PV: Năm qua nhiều vụ xét xử về sai phạm trong quản lý kinh tế và nhiều quan chức cấp cao bị dính vào vòng lao lý. Theo ông, vai trò tư vấn và tham mưu luật pháp như thế nào?

LS NVH: Năm vừa qua là một năm đánh dấu sự gia tăng các vụ án hình sự mà trong đó bị cáo là những quan chức cấp cao trong quản lý kinh tế. Điều này có thể có nhiều nguyên nhân, trong đó, có những nguyên nhân đã được chính Tổng Bí Thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chỉ ra trong các phát biểu chỉ đạo của mình đó là yếu tố chủ quan của từng cá nhân sai phạm, về sự xuống cấp đạo đức,... Tuy nhiên, có một số các nguyên nhân khác cũng không kém phần quyết định đó là sự chồng chéo thiếu thống nhất của hệ thống pháp luật, về tính phức tạp của pháp luật qua các thời kỳ, đặc biệt là các quy định liên quan tới quản lý đất đai, liên quan đến doanh nghiệp nhà nước và việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước đặc biệt, đó chính là việc tư vấn và tham mưu luật pháp chưa được thực sự chú trọng. Điều đó có nghĩa là, khi ban hành một quyết định nào đó, thường cơ quan/cá nhân có thẩm quyền chưa tham vấn ý kiến đầy đủ, hoặc chưa có một bộ phận giúp việc am tường pháp luật, để tư vấn và giúp việc. Chính vì vậy, các quyết định được ban hành khó tránh khỏi những sai sót cũng như vi phạm pháp luật.

Ở các nước phát triển, giúp việc cho các vị trí quan trọng, thường có một bộ phận pháp lý hùng hậu, mọi vấn đề trước khi được đưa ra đều phải được bộ phận pháp lý này “quét” lại trước khi được ban hành. Chính vì sự cẩn trọng này mà các quyết định khi được ban hành rất ít khi có sự trái pháp luật. Ở Việt Nam, hệ thống pháp luật vốn đã phức tạp, chồng chéo, nếu không có những đội ngũ am tường pháp luật, thì những vị trí nắm giữ quyền lực quan trọng (mà phần lớn trong số này không phải là những người được đào tạo trong lĩnh vực pháp luật) sẽ khó tránh khỏi sai phạm.

Tiếp tục, đối với đội ngũ giúp việc, cần đưa ra quy chế về trách nhiệm, nghĩa vụ trong nội dung mình tham vấn. Theo đó, sẽ nâng cao trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của những người được giao trọng trách này.

Xin cảm ơn Luật sư

Trương Công Lý (thực hiện)

Thong ke